Một bề mặt nội thất đẹp không chỉ cần lớp phủ bóng mịn. Nó cần một lớp lót đủ trong, đủ đầy, dễ xả và một lớp phủ đủ chắc để giữ vẻ đẹp trong quá trình sử dụng.
Xưởng sản xuất nội thất.
Thợ hoàn thiện gỗ.
Đội thi công công trình.
Những người muốn chuyển sang sơn gỗ hệ nước bằng một quy trình rõ ràng.
Cứng – trong – đầy – dễ xả.
Cứng chắc – satin mịn.
Bàn ghế nội thất.
Tủ, kệ và giường gỗ.
Cửa và vách gỗ trong nhà.
Đồ trang trí.
Veneer và plywood đã được chuẩn bị đúng.
Sản phẩm mộc sản xuất tại xưởng.
Công trình cần màng trong, satin và giữ rõ vân gỗ.
Đây là hệ hoàn thiện trong suốt cho nội thất. Khi cần sơn trắng hoặc che phủ nền, nên sử dụng hệ 66A/68A.
Gỗ phải đủ khô.
Làm sạch dầu, sáp, keo và bụi.
Chà nhám đồng đều theo chiều thớ.
Không để sót keo tại đường ghép.
Làm sạch hoàn toàn bụi nhám.
Phun hoặc quét một lớp 66 vừa đủ.
Với gỗ hút nhiều hoặc khi cần bề mặt đầy hơn, có thể thi công thêm lớp 66 sau khi lớp trước đã khô phù hợp.
Trong điều kiện thông thoáng, nhiệt độ khoảng 30°C, chờ từ 1 giờ trở lên và chỉ xả khi màng đã khô đủ.
Xả kỹ bằng nhám:
P240 khi cần làm phẳng nhiều hơn.
P320 khi nền đã tương đối đẹp hoặc trước lớp phủ.
Làm sạch hoàn toàn bụi nhám.
Phun hoặc quét một lớp 68 đều trên bề mặt.
Khi cần lớp phủ thứ hai:
Chờ lớp trước khô đủ.
Xả nhẹ bằng nhám P320 trở lên.
Làm sạch bụi.
Thi công lớp 68 tiếp theo.
Chuẩn bị gỗ.
Phun, lau hoặc quét 69F đã pha tinh màu.
Chờ lớp màu khô từ 30 phút trở lên.
Chỉ vuốt nhám rất nhẹ nếu cần.
Thi công 66.
Xả nhám lót bằng P240 hoặc P320.
Phủ 68.
Khi cần tăng hoặc chỉnh sắc độ:
Không dùng lớp chỉnh màu dày để che lỗi làm màu ban đầu.
Khi yêu cầu màu ở mức thông dụng hoặc người thợ muốn sử dụng chính sản phẩm đang có:
Pha 66 với khoảng 50% nước hoặc nước pha (C14 pha với 4 phần nước)
Thêm tinh màu theo màu mẫu.
Khuấy thật đều.
Quét, lau hoặc phun lên gỗ.
Đây là cách làm màu gọn và kinh tế bằng chính lớp lót.
So với 69F, phương án này thường:
Tạo lớp màu có nhiều thân hơn.
Khô và thiết lập chậm hơn.
Khả năng thấm và độ sắc của màu thấp hơn.
Khó chồng hoặc chỉnh nhiều lớp tinh tế bằng 69F.
Khi cần màu trong, mỏng, nhanh và dễ kiểm soát hơn, nên sử dụng 69F.
Đặc tính ứng dụng:
Thấm ướt và bám vào gỗ.
Tạo màng trong.
Có đủ thân để làm đầy bề mặt.
Khô tương đối nhanh.
Lên bột nhám và dễ xả khi màng đã khô đúng.
Tạo nền ổn định cho lớp phủ 68.
Gỗ thô, hút nhiều hoặc có nhiều ghim có thể cần thêm lớp lót. Không nên thay việc tạo thân bằng nhiều lớp vừa phải bằng một lớp thật dày.
Đặc tính ứng dụng:
Màng trong, làm rõ màu và vân gỗ.
Bề mặt satin mịn.
Cảm giác màng chắc.
Có khả năng chịu đựng phù hợp với đồ gỗ nội thất.
Trải và hoàn thiện tốt trên lớp lót đã được chuẩn bị đúng.
Có thể thi công thêm lớp khi cần nâng độ đều và khả năng bảo vệ.
Độ bóng thực tế còn phụ thuộc:
Độ phẳng của lớp lót.
Độ dày màng.
Độ hút của nền.
Mức độ khuấy đều sản phẩm.
Điều kiện khô.
Luôn khuấy 68 thật đều trước và trong quá trình sử dụng để duy trì độ satin đồng nhất.
Một sản phẩm đa dụng có thể đáp ứng nhiều nhu cầu phổ thông. Nhưng với hoàn thiện chuyên nghiệp, lớp lót và lớp phủ phải thực hiện hai nhiệm vụ khác nhau.
Bám và ôm chân gỗ.
Làm đầy bề mặt.
Tạo thân màng.
Giữ độ trong.
Khô tương đối nhanh.
Dễ xả nhám để tạo nền phẳng.
Trải đều trên lớp lót đã xả.
Tạo độ mịn và độ bóng mong muốn.
Chịu va chạm và trầy xước trong sử dụng thông thường.
Giữ vẻ trong đẹp của màu và vân gỗ.
Tạo cảm giác bề mặt chắc, mượt và dễ chịu.
Tách đúng nhiệm vụ giúp người thợ kiểm soát độ đầy, độ phẳng và chất lượng bề mặt tốt hơn.
Là phương pháp phù hợp nhất với hoàn thiện chuyên nghiệp:
Dễ kiểm soát độ dày.
Bề mặt ít vệt.
Phù hợp với sản xuất tại xưởng.
Phù hợp với:
Mẫu thử.
Chi tiết nhỏ.
Công trình không thuận tiện phun.
Những vị trí khó tiếp cận bằng súng.
Sử dụng cọ mềm, quét lớp vừa phải và tránh làm đi làm lại khi màng đã bắt đầu khô.
LAU
Lau thích hợp nhất ở công đoạn màu. Với lớp lót 66 và phủ 68, phun hoặc quét thường tạo được thân màng và độ hoàn thiện tốt hơn.
Độ loãng của 66 và 68 phụ thuộc:
Loại súng và đầu phun.
Áp lực phun.
Điều kiện thời tiết.
Độ hút của gỗ.
Yêu cầu độ dày mỗi lớp.
Ngoại trừ công thức 66 pha 50% nước dùng làm màu, không nên mặc định một tỷ lệ nước duy nhất cho mọi điều kiện.
Khi cần điều chỉnh:
Khuấy đều sản phẩm.
Thêm nước sạch từng ít một.
Khuấy lại.
Phun hoặc quét mẫu.
Chỉ tiếp tục điều chỉnh sau khi quan sát độ trải và màng khô.
Pha quá loãng có thể làm giảm thân màng, tăng chảy sệ và làm gỗ nổi lông nhiều hơn.
Trong điều kiện thông thoáng, nhiệt độ khoảng 30°C:
Giữa các lớp 66 hoặc 68: từ 1 giờ.
Chỉ xả nhám khi màng đã khô đủ và lên bột nhám.
Sử dụng nhẹ: sau khoảng 24 giờ.
Sử dụng bình thường: sau khoảng 3 ngày.
Màng tiếp tục phát triển và nên được đánh giá đầy đủ sau khoảng 7 ngày.
Trời lạnh, độ ẩm cao, màng dày hoặc không gian thiếu thông thoáng sẽ làm thời gian khô kéo dài.
Phun: khoảng 5–10 m²/kg/lớp.
Quét: khoảng 10–20 m²/kg/lớp.
Lượng thực tế phụ thuộc loại gỗ, độ hút, độ nhám, tỷ lệ pha và độ dày màng.
Gỗ còn ẩm hoặc chưa được làm sạch.
Keo ghép còn sót trên bề mặt làm màu không ăn.
Phun lót quá dày để cố làm đầy trong một lần.
Xả nhám khi 66 chưa khô đủ.
Xả xuyên lớp lót hoặc phá lớp màu.
Không làm sạch bụi trước khi phủ.
Không khuấy đều 68 làm độ satin không đồng nhất.
Phun phủ quá ướt gây chảy hoặc lâu khô.
Làm lớp tiếp theo quá sớm.
Chỉ đánh giá màu trước khi hoàn thành lớp phủ.
Dùng hệ nội thất cho những vị trí ngoài trời khắc nghiệt.
Nên chọn giải pháp khác khi:
Cửa hoặc đồ gỗ ngoài trời → hệ 69/88.
Nền có tannin hoặc cần khóa mạnh → lựa chọn lót chuyên dụng phù hợp.
Cần làm màu chuyên sâu → 69F.
Cần hoàn thiện phổ thông bằng một sản phẩm → NATURE hoặc VECNI NƯỚC.
Cứng – trong – đầy – dễ xả.
Cứng chắc – satin mịn.