Gỗ ngoài trời không chỉ cần một lớp sơn cứng hoặc chống nước.
Một hệ hoàn thiện ngoài trời phải đồng thời đối diện với:
Nắng và tia UV.
Mưa, sương và độ ẩm.
Chênh lệch nhiệt độ ngày đêm.
Sự co giãn và chuyển động của gỗ.
Đầu gỗ, khe ghép và những vùng dễ hút nước.
Va chạm, ma sát và quá trình sử dụng.
Ứng suất còn lại giữa gỗ và các lớp màng.
TBOND xây dựng hệ 69/88 để tạo sự cân bằng giữa độ bám, thân màng, độ dẻo dai và khả năng bảo vệ bề mặt.
Thấm bám – dẻo dai – bền bỉ.
Bền bỉ – trong đẹp – satin mịn.
Không chọn quy trình chỉ dựa vào mức “cao cấp”. Hãy chọn theo loại gỗ, thiết kế, vị trí sử dụng, phương pháp thi công và khả năng bảo trì.
Cửa chính.
Cửa sổ và khung cửa.
Bàn ghế ngoài trời.
Lam và vách gỗ.
Hàng rào và cổng gỗ.
Chòi, mái và chi tiết trang trí.
Đồ gỗ đặt tại ban công hoặc hiên nhà.
Công trình cần màng trong, giữ vân và satin.
Sàn gỗ ngoài trời có thêm yêu cầu về mài mòn, kết cấu, thoát nước và bảo trì nên cần được đánh giá bằng một quy trình riêng.
Gỗ phải đủ khô.
Làm sạch dầu, sáp, bụi và keo ghép.
Loại bỏ phần mục, mốc hoặc hư hỏng.
Chà nhám đồng đều theo chiều thớ.
Làm mềm những cạnh quá sắc khi điều kiện thiết kế cho phép.
Làm sạch hoàn toàn bụi nhám.
Đặc biệt chú ý:
Đầu gỗ.
Cạnh dưới của cửa.
Khe ghép.
Lỗ vít.
Vị trí tiếp giáp tường hoặc nền.
Những vùng dễ đọng nước.
Thi công một lớp 69 vừa đủ bằng phun hoặc quét.
Gỗ hút mạnh hoặc bề mặt cần nhiều thân lót hơn có thể được thi công thêm lớp sau khi lớp trước đã khô phù hợp.
Chờ lớp 69 khô đủ rồi xả bằng nhám P240 hoặc P320 tùy độ phẳng của nền.
Làm sạch hoàn toàn bụi nhám.
Thi công lớp 88 đều trên bề mặt.
Khi cần lớp phủ thứ hai:
Chờ lớp trước khô đủ.
Xả nhẹ bằng nhám P320 trở lên.
Làm sạch bụi.
Thi công lớp tiếp theo.
Nhiều lớp vừa phải thường an toàn hơn một lớp quá dày.
TBOND khuyến cáo ưu tiên màu khoáng cho công trình ngoài trời.
Làm rõ vân và ghim gỗ.
Tạo màu sâu và thật gỗ.
Giảm tác động trực tiếp của ánh sáng lên nền gỗ.
Giữ màu phù hợp hơn trong điều kiện ngoài trời.
Chuẩn bị gỗ.
Pha màu khoáng vào 69F.
Phun, quét hoặc lau lớp màu.
Chờ lớp màu khô.
Thi công lót 69.
Xả nhám.
Phủ 88.
69F làm nhiệm vụ mang màu và tạo chân. 69 tạo thân lót và lớp chuyển tiếp dẻo dai. 88 tạo bề mặt bảo vệ trong đẹp, satin mịn.
Khi yêu cầu màu ở mức thông dụng hoặc người thợ muốn sử dụng chính sản phẩm đang có:
Pha 69 với khoảng 50% nước sạch.
Thêm tinh màu khoáng theo màu mẫu.
Khuấy thật đều.
Quét, lau hoặc phun.
Đây là phương án gọn và kinh tế.
Khi cần lớp màu mỏng, sắc, thấm và dễ kiểm soát hơn, nên sử dụng 69F.
H10 được sử dụng khi:
Công trình ngoài trời có yêu cầu cao hơn.
Cần tăng khả năng đóng rắn của màng.
Cần bề mặt chắc hơn.
Cửa chính, bàn hoặc chi tiết thường xuyên sử dụng.
Người thợ đã có khả năng kiểm soát tỷ lệ, potlife và thời gian giữa các lớp.
Thêm khoảng 20% nước sạch vào 69.
Khuấy đều.
Thêm 5% H10.
Khuấy kỹ khoảng 2 phút.
Sử dụng trong vòng 1 giờ.
Mức 5% giúp nâng cấp lớp lót nhưng vẫn giữ vai trò chuyển tiếp và độ dẻo dai cần thiết.
Thêm khoảng 20% nước sạch vào 88.
Khuấy đều.
Thêm 5% hoặc 10% H10.
Khuấy kỹ khoảng 2 phút.
Sử dụng trong vòng 1 giờ.
Có thể hiểu:
5% H10: lớp chuyển tiếp hoặc mức nâng cấp vừa phải.
10% H10: lớp phủ cuối hoặc vị trí yêu cầu cao hơn.
Không đổ phần đã pha H10 trở lại can sản phẩm nguyên.
Một số nền cần lớp chân mạnh hơn:
Gỗ có nguy cơ xì tannin.
Gỗ cứng hoặc chứa dầu.
Cửa chính chịu thời tiết khắc nghiệt.
Nền có lịch sử ẩm.
Công trình cần tăng khả năng khóa nền.
Khi đó có thể sử dụng lót 2K.
Vai trò từng lớp:
Lót 2K: khóa nền và tạo lớp chân cứng.
Lót 2K:
Pha thêm khoảng 20% nước.
Thêm 10% HB.
Khuấy kỹ.
Sử dụng trong vòng 40 phút.
Chỉ thi công bằng phương pháp quét.
Lót 2K không phải lựa chọn mặc định cho mọi công trình. Chỉ sử dụng khi nền và yêu cầu thực tế cần đến nó.
Đặc tính ứng dụng:
Thấm ướt và bám vào nền gỗ.
Tạo thân lót.
Có độ dẻo dai phù hợp với sự chuyển động của gỗ.
Làm nền cho lớp phủ 88.
Tương hợp tốt với H10 khi cần nâng cấp hệ màng.
Có thể thi công trong hoặc ngoài xưởng.
69 không chỉ nhằm tạo độ cứng. Nhiệm vụ quan trọng của nó là tạo một lớp lót có khả năng bám, mang thân màng và chuyển tiếp chuyển động giữa gỗ với lớp phủ.
Đặc tính ứng dụng:
Màng trong, giữ rõ màu và vân gỗ.
Bề mặt satin mịn.
Có độ dẻo dai và khả năng chịu đựng phù hợp.
Hạn chế tác động của nước và thời tiết lên bề mặt.
Có thành phần hỗ trợ độ trượt và cảm giác màng.
Tương hợp với H10 khi cần tăng khả năng đóng rắn.
88 có thể được sử dụng cho đồ gỗ trong nhà khi cần một lớp phủ dẻo dai, nhưng vị trí rõ nhất của sản phẩm là lớp phủ trong hệ hoàn thiện ngoài trời.
Gỗ là vật liệu tự nhiên, có khả năng hút và nhả ẩm. Khi môi trường thay đổi, gỗ tiếp tục chuyển động.
Nếu màng quá mềm:
Dễ trầy và bám bụi.
Khả năng bảo vệ cơ học hạn chế.
Bề mặt nhanh xuống cấp.
Nếu màng quá cứng và thiếu khả năng chuyển động:
Ứng suất tập trung tại khe và cạnh.
Màng có thể nứt khi gỗ co giãn.
Nước đi vào từ vị trí hư hỏng nhưng khó thoát ra.
Một điểm mất liên kết có thể kéo theo vùng bong lớn.
Vì vậy, độ bền ngoài trời không đến từ một tính chất đơn lẻ. Nó là kết quả của cả hệ:
Chuẩn bị gỗ → Làm màu và tạo chân → Lót → Phủ → Thi công đúng → Bảo trì đúng lúc
Đây là một trong những trường hợp khó nhất vì bề mặt phải chịu:
Nắng mạnh trong thời gian dài.
Nhiệt độ bề mặt cao.
Chênh lệch nhiệt độ giữa hai mặt cửa.
Mưa tạt.
Chuyển động mạnh của gỗ.
Những vùng hút nước tại cạnh dưới và khe ghép.
Với cửa hướng Tây, cần:
Xử lý đặc biệt cạnh dưới và vị trí bắt khóa.
Ưu tiên màu khoáng thay vì để gỗ hoàn toàn không màu.
Sử dụng hệ ngoài trời chuyên nghiệp.
Làm mẫu để chọn quy trình căn bản hay có lót 2K.
Không thi công lớp quá dày.
Để màng đóng rắn đủ trước khi lắp đặt và tiếp xúc thời tiết.
Kiểm tra, vệ sinh và bảo trì định kỳ.
Một lớp phủ tốt không thể bù hoàn toàn cho gỗ ẩm, thiết kế đọng nước, cạnh không được sơn hoặc kết cấu liên tục chuyển động quá mức.
Trong điều kiện thông thoáng, nhiệt độ khoảng 30°C:
Lót 2K có HB: từ 2 giờ 30 phút.
Chỉ làm lớp tiếp theo khi lớp trước đã khô đủ và có thể xả nhám phù hợp.
Trời lạnh, độ ẩm cao, màng dày hoặc khu vực thiếu thông thoáng sẽ kéo dài thời gian khô.
Sử dụng nhẹ: sau khoảng 24 giờ.
Sử dụng bình thường: sau khoảng 3 ngày.
Màng tiếp tục đóng rắn và nên được đánh giá đầy đủ sau khoảng 7 ngày.
Không để bề mặt vừa thi công gặp mưa, đọng nước hoặc nắng nóng quá sớm.
Phun: khoảng 5–10 m²/kg/lớp.
Quét: khoảng 10–20 m²/kg/lớp.
Lượng thực tế phụ thuộc độ hút của gỗ, độ nhám, tỷ lệ pha và độ dày mỗi lớp.
Chỉ sơn mặt nhìn thấy nhưng bỏ quên cạnh và đầu gỗ.
Để nước đọng tại khe, chân hoặc cạnh dưới.
Dùng màu nhuộm trong cho vị trí chịu nắng mạnh mà không đánh giá độ bền màu.
Thi công lớp quá dày.
Làm lớp tiếp theo khi lớp trước chưa khô.
Pha H10 sai thứ tự.
Tiếp tục dùng hỗn hợp sau potlife chỉ vì vẫn còn lỏng.
Không xử lý tannin hoặc nền dầu khi cần.
Đưa công trình ra mưa nắng quá sớm.
Chờ đến khi màng bong tróc nặng mới bảo trì.
Không có lớp phủ trong suốt nào giữ nguyên vĩnh viễn ngoài trời.
Cần kiểm tra định kỳ:
Độ bóng và màu sắc.
Những vết nứt nhỏ.
Cạnh dưới và đầu gỗ.
Khe ghép.
Vùng đọng nước.
Những mặt nhận nắng nhiều.
Các vị trí thường xuyên va chạm.
Nên vệ sinh, xả nhám và làm thêm lớp bảo trì khi màng vẫn còn bám chắc. Bảo trì sớm đơn giản và an toàn hơn để màng hư hỏng nặng rồi mới sửa.
Thấm bám – dẻo dai – bền bỉ.
Bền bỉ – trong đẹp – satin mịn.
| Điều kiện | Quy trình |
|---|---|
| NGOÀI TRỜI TIÊU CHUẨN | 69F màu khoáng → 69 → 88 |
| NGOÀI TRỜI NÂNG CẤP | 69F màu khoáng → 69 + 5% H10 → 88 + 10% H10 |
| NỀN KHÓ, CẦN THÂN LÓT ĐẦY ĐỦ | 69F màu khoáng → Lót 2K → 69 + 5% H10 → 88 + 10% H10 |
| NỀN KHÓ NHƯNG ĐÃ ĐỦ PHẲNG, ĐẸP | 69F màu khoáng → Lót 2K → 88 + 5% H10 → 88 + 10% H10 |