Không phải mọi bề mặt đều có thể được giải quyết chỉ bằng lót và phủ.
Người thợ có thể gặp:
Cạnh MDF hút mạnh và nổi xơ.
Cạnh plywood có nhiều lớp, khe và ghim.
Gỗ thô hoặc có lỗ mạch lớn.
Bề mặt cần giả cổ hoặc tăng chiều sâu vân.
Dụng cụ và bề mặt cần được vệ sinh đúng cách.
TBOND sử dụng ba sản phẩm bổ trợ theo ba nhiệm vụ riêng:
Bù thịt – làm đầy – xử lý cạnh.
Tạo chiều sâu – lấp ghim – tạo hiệu ứng màu.
C14
Vệ sinh – điều chỉnh – hỗ trợ thi công.
Ba sản phẩm này không thay thế lót và phủ. Chúng được đặt vào quy trình khi đặc điểm bề mặt thật sự cần đến.
Cạnh MDF hoặc plywood hút mạnh
Gỗ thô, nhiều ghim hoặc cần giả cổ
Cần điều chỉnh GLAZE, hỗ trợ một số công thức màu hoặc vệ sinh dụng cụ
Bù thịt.
Xử lý cạnh MDF.
Làm đầy cạnh plywood.
Tăng body cho lớp lót.
Xử lý bề mặt hút mạnh.
Tạo chiều sâu.
Nhấn ghim và vân.
Làm giả cổ.
Tạo hiệu ứng màu.
Giữ màu tại vùng lõm.
C14
Điều chỉnh GLAZE.
Hỗ trợ một số công thức màu.
Vệ sinh dụng cụ.
Hỗ trợ làm sạch bề mặt cũ theo quy trình chuyên nghiệp.
FILLER là sản phẩm có body cao, được sử dụng để:
Bù độ hút của cạnh MDF.
Làm đầy cạnh plywood.
Xử lý những vùng gỗ thô.
Lấp ghim và khuyết tật nhỏ.
Tạo nền đủ thịt trước lót và phủ.
Tăng body cho một số lớp lót khi cần.
FILLER không phải keo kết cấu hoặc vật liệu dùng để bù những khe hở lớn đang chịu lực.
Những vị trí nứt, hở hoặc chuyển động mạnh phải được sửa kết cấu trước khi hoàn thiện bề mặt.
FILLER có tính lưu biến:
Khi để yên, sản phẩm có trạng thái đặc.
Khi được khuấy đủ lực, sản phẩm trở nên lỏng và dễ thi công hơn.
Sau khi để yên khoảng một đến hai ngày, sản phẩm có thể đặc trở lại.
Nếu mở bao bì và thấy FILLER đang lỏng, có thể sản phẩm vừa được khuấy hoặc chiết rót trước đó. Đây không mặc định là dấu hiệu sản phẩm bị hỏng.
Ngược lại, FILLER đang đặc cũng không có nghĩa phải thêm nước ngay.
Có thể sử dụng:
Que khuấy chắc.
Máy khoan gắn cánh khuấy.
Môtơ hoặc thiết bị khuấy phù hợp.
Mở bao bì và kiểm tra bề mặt.
Đưa cánh khuấy xuống gần đáy.
Khuấy từ tốc độ thấp.
Di chuyển cánh khuấy để phá đều cấu trúc đặc.
Chú ý phần đáy và thành dụng cụ.
Tiếp tục cho đến khi sản phẩm đồng nhất và trở nên dễ thi công.
Chỉ sau đó mới quyết định có cần thêm nước hay không.
Không thêm nhiều nước vào sản phẩm đang đặc nhưng chưa được khuấy. Việc này có thể làm FILLER bị loãng quá mức sau khi cấu trúc đã được phá hoàn toàn.
Cạnh MDF chứa nhiều sợi hở và hút mạnh hơn phần mặt.
Nếu chỉ phủ sơn trắng trực tiếp:
Sợi MDF tiếp tục dựng lên.
Cạnh thiếu body.
Phải làm nhiều lớp mới đạt độ đầy.
Sau xả nhám có thể lộ lại nền.
Làm sạch cạnh → FILLER → Xả nhám → 66A → 68A
Xử lý phần xơ và bụi.
Khuấy FILLER đến khi lỏng đều.
Quét một lớp vừa phải lên cạnh.
Ép sản phẩm đi vào phần xơ và khe nhỏ.
Chờ khô đầy đủ.
Xả phẳng bằng nhám phù hợp.
Làm sạch bụi.
Tiếp tục bằng hệ lót–phủ.
Không nên trét một lớp quá dày để cố hoàn thành trong một lần. Nhiều lớp vừa phải thường khô và xả ổn định hơn.
Cạnh plywood có nhiều lớp gỗ và đường keo, dễ xuất hiện:
Khe giữa các lớp.
Chênh lệch độ hút.
Ghim hoặc rỗ nhỏ.
Vệt nổi sau khi phủ.
FILLER / GLAZE → Xả nhám → 66 → Phủ phù hợp
Với khe lớn hoặc lớp plywood đã tách, phải sửa kết cấu trước. FILLER chỉ xử lý bề mặt, không thay thế keo dán hoặc việc ép lại lớp ván.
Sau khi khuấy đủ, FILLER thường có thể được quét trực tiếp lên cạnh MDF, plywood hoặc vùng cần bù thịt.
Quét phù hợp khi:
Xử lý cạnh.
Làm mẫu.
Thi công cục bộ.
Cần ép sản phẩm vào phần xơ hoặc khe nhỏ.
Sau khi khuấy hoàn toàn, nếu cần phun:
Thêm khoảng 5–10% nước sạch.
Thêm từng ít một.
Khuấy đều sau mỗi lần thêm.
Phun thử trước khi điều chỉnh tiếp.
Thiết bị.
Đầu phun.
Áp lực.
Nhiệt độ.
Body cần đạt.
Độ hút của nền.
Pha quá loãng sẽ làm giảm khả năng bù thịt và tăng số lớp cần thi công.
Có thể thêm FILLER vào 66 khi cần:
Tăng body của lớp lót.
Tự điều chỉnh một lớp lót có khả năng bù thịt cao hơn.
Xử lý cạnh MDF hoặc plywood.
Làm nền cho hệ trắng hoặc hệ che phủ.
Nguyên tắc:
Khuấy riêng FILLER đến khi đồng nhất.
Khuấy riêng 66.
Thêm FILLER vào 66 từng ít một.
Khuấy đều sau mỗi lần thêm.
Kiểm tra độ trải, độ khô và khả năng xả trên mẫu.
Chỉ chốt tỷ lệ sau khi mẫu đạt yêu cầu.
Không mặc định một tỷ lệ dùng cho mọi bề mặt. FILLER càng nhiều thì body càng tăng nhưng độ trải, độ trong và đặc tính màng của lớp lót cũng thay đổi.
Không sử dụng FILLER để thay thế:
Keo ghép gỗ.
Keo sửa kết cấu.
Vật liệu bù khe lớn chịu lực.
Xử lý gỗ đang mục hoặc ẩm.
Chống thấm từ bên trong vật liệu.
FILLER phải được xả và hoàn thiện bằng hệ lót–phủ phù hợp.
GLAZE là vật liệu tạo màu và hiệu ứng bề mặt, phù hợp khi cần:
Làm màu sâu hơn.
Nhấn mạnh ghim và lỗ mạch.
Tạo chiều sâu cho vân gỗ.
Làm hiệu ứng giả cổ.
Điều chỉnh sắc độ giữa các vùng.
Tạo màu trên gỗ thô.
Giữ hạt màu tại những phần lõm của bề mặt.
GLAZE không hướng đến một lớp màu thật trong và đều như màu nhuộm. Giá trị của nó nằm ở khả năng tạo chiều sâu, tương phản và dấu vết thủ công.
Sồi, tần bì và gỗ có lỗ mạch rõ.
Gỗ thô hoặc bề mặt cần giữ cảm giác mộc.
Chi tiết chạm, soi, rãnh hoặc góc.
Sản phẩm giả cổ.
Mặt gỗ cần nhấn mạnh ghim và vân.
Công trình ngoài trời cần lớp màu khoáng sâu và có thân hơn.
Loại gỗ.
Độ nhám.
Lượng GLAZE.
Thời gian chờ trước khi lau.
Loại khăn và lực lau.
Luôn làm mẫu đầy đủ đến lớp phủ cuối.
Phù hợp khi muốn GLAZE đi sâu vào ghim, lỗ mạch và những vùng hút mạnh.
Chuẩn bị gỗ → Màu nền nếu cần → GLAZE → Lót → Phủ
Hiệu ứng thường:
Sâu.
Đậm.
Thật gỗ.
Tương phản mạnh.
Gỗ hút không đều có thể làm GLAZE bị cháy màu. Cần làm mẫu trước.
Phù hợp khi muốn kiểm soát màu và hiệu ứng giả cổ dễ hơn.
Trải GLAZE.
Lau bớt phần dư.
Giữ màu tại góc, rãnh và lỗ mạch.
Điều chỉnh độ đậm nhạt.
Đây thường là vị trí dễ kiểm soát hơn với đồ nội thất và giả cổ.
Chuẩn bị bề mặt theo hiệu ứng mong muốn.
Khuấy GLAZE thật đều.
Quét hoặc lau một lượng vừa đủ.
Đưa sản phẩm vào lỗ mạch, ghim và rãnh.
Chờ trong khoảng thời gian đã xác định trên mẫu.
Lau phần dư theo chiều thớ.
Giữ lại màu tại những vùng cần nhấn.
Để lớp GLAZE khô đầy đủ.
Thi công lớp lót hoặc phủ phù hợp.
Không làm diện tích quá lớn trong một lần nếu chưa kiểm soát được thời gian lau.
Dùng cùng một loại khăn và cách lau trên toàn bộ sản phẩm để hạn chế khác biệt màu.
Một số quy trình tham khảo:
Hoặc:
Việc đặt GLAZE trước hay sau 66 tạo hiệu ứng khác nhau. Phải làm mẫu để chọn đúng.
GLAZE có thể được sử dụng để tạo màu sâu, lấp ghim và tăng lượng hạt màu tại bề mặt gỗ ngoài trời.
Hoặc khi muốn kiểm soát GLAZE trên nền đã được tạo chân:
GLAZE phải được bảo vệ bằng lớp phủ phù hợp. Không sử dụng GLAZE như lớp hoàn thiện cuối cùng.
Không khuấy đều làm màu không đồng nhất.
Làm diện tích quá lớn trước khi lau.
Để mép GLAZE khô tạo vệt nối.
Lau mỗi vùng bằng lực khác nhau.
Dùng trên gỗ hút mạnh mà không làm mẫu.
Để lớp GLAZE quá dày trong góc và rãnh.
Phủ lớp tiếp theo khi GLAZE chưa khô đủ.
Không làm mẫu đến lớp phủ cuối.
Sử dụng GLAZE như lớp phủ bảo vệ.
C14 là dung dịch hệ nước được TBOND thiết kế cho hai nhóm công việc:
Làm sạch dầu mỡ và bụi bẩn.
Hỗ trợ vệ sinh bề mặt gỗ hoặc lớp sơn cũ trước khi sơn lại.
Tẩy nhẹ một số vết sơn cũ.
Làm sạch vết bẩn hoặc GLAZE dư.
Ngâm và vệ sinh cọ, dụng cụ phù hợp.
Pha với lót và tinh màu.
Hỗ trợ độ hòa tan và phân tán của hỗn hợp màu.
Tạo nước pha ổn định cho phương pháp quét hoặc phun.
Phù hợp với một số công thức làm màu bằng lót 66 hoặc 69.
C14 không phải dung môi đa năng dùng cho mọi sản phẩm TBOND. Chỉ sử dụng trong những công thức và công việc đã được hướng dẫn.
C14 nguyên chất được sử dụng khi cần làm sạch mạnh hơn tại những vị trí:
Dính dầu mỡ.
Có vết sơn cũ nhẹ.
Có GLAZE dư.
Có vết bẩn cục bộ khó làm sạch bằng dung dịch pha loãng.
Thử trước tại một vị trí nhỏ và khuất.
Thấm một lượng C14 vừa đủ vào khăn hoặc dụng cụ phù hợp.
Lau tại vùng cần vệ sinh.
Không để dung dịch đọng quá lâu trên bề mặt.
Lau lại phần bẩn đã được tách ra.
Để bề mặt khô hoàn toàn trước khi làm lớp tiếp theo.
Lớp PU, vecni, màu sửa và vật liệu nhựa cũ có thể phản ứng khác nhau. Vì vậy, không sử dụng C14 nguyên chất trên toàn bộ bề mặt trước khi thử mẫu.
C14 chỉ hỗ trợ tẩy nhẹ. Sản phẩm không thay thế phương pháp bóc bỏ cơ học đối với lớp sơn cũ dày, mất liên kết hoặc đang bong tróc.
Công thức:
Hỗn hợp này được gọi là nước pha chuẩn C14.
Ví dụ:
100 g C14 + 400 g nước.
1 kg C14 + 4 kg nước.
Cân lượng nước sạch cần dùng.
Thêm C14 theo tỷ lệ 1:4.
Khuấy đến khi dung dịch đồng nhất.
Đựng trong bao bì sạch và có nắp kín.
Ghi rõ tên và tỷ lệ dung dịch sau khi pha.
Nước pha chuẩn C14 có thể được sử dụng cho ba nhóm công việc.
Dung dịch C14 pha 1:4 có thể dùng để:
Lau dầu mỡ nhẹ.
Vệ sinh bụi bẩn trên bề mặt gỗ.
Hỗ trợ làm sạch lớp sơn cũ trước khi sơn lại.
Vệ sinh vết GLAZE nhẹ.
Làm sạch bề mặt sau các công đoạn sửa chữa phù hợp.
Loại bỏ bụi bẩn rời.
Với dầu mỡ nhiều, vệ sinh sơ bộ bằng phương pháp phù hợp.
Lau bằng dung dịch C14 pha 1:4.
Thay khăn khi khăn đã bẩn.
Không để chất bẩn hòa tan lan trở lại bề mặt.
Để khô hoàn toàn.
Xả nhám tạo chân bám khi quy trình yêu cầu.
Làm sạch bụi trước khi sơn.
Với đồ gỗ cũ, vệ sinh không thể khôi phục một lớp sơn đã mất liên kết. Những phần bong, phồng hoặc bục phải được loại bỏ trước.
Dung dịch C14 pha 1:4 có thể được sử dụng thay cho nước sạch trong một số công thức pha lót và tinh màu.
Công dụng:
Hỗ trợ tinh màu hòa và phân bố trong hỗn hợp.
Điều chỉnh độ loãng của lớp lót làm màu.
Hỗ trợ độ trải khi phun hoặc quét.
Tạo sự ổn định và lặp lại tốt hơn so với việc gia giảm nhiều thành phần riêng lẻ tại công trình.
Làm màu nội thất với 66
Công thức tổng quát:
Hỗn hợp có thể được quét hoặc phun; phương pháp lau chỉ sử dụng sau khi mẫu thử cho kết quả phù hợp.
Làm màu ngoài trời với 69
Công thức tổng quát:
Lượng nước pha chuẩn thêm vào 66 hoặc 69 được lựa chọn theo:
Phương pháp quét hay phun.
Thiết bị.
Độ hút của gỗ.
Độ đậm của màu.
Độ dày lớp màu mong muốn.
Khi sử dụng công thức pha loãng khoảng 50%, có thể thay lượng nước sạch tương ứng bằng nước pha chuẩn C14 sau khi đã làm mẫu.
C14 hỗ trợ công đoạn pha và thi công; sản phẩm không thay thế 69F khi yêu cầu một lớp làm màu chuyên biệt, mỏng, nhanh và sắc nét hơn.
Dung dịch C14 pha 1:4 có thể dùng để:
Ngâm cọ.
Làm mềm phần vật liệu chưa khô.
Vệ sinh cọ sau khi dùng lót hoặc hỗn hợp màu phù hợp.
Hỗ trợ làm sạch dụng cụ có vết GLAZE.
Loại bỏ phần sơn hoặc GLAZE dư khỏi dụng cụ.
Ngâm phần đầu cọ trong dung dịch C14 pha 1:4.
Xoa và rửa cho đến khi chất bẩn được tách ra.
Rửa lại theo hướng dẫn của sản phẩm đã sử dụng.
Làm khô và bảo quản dụng cụ đúng cách.
Không để cán, keo dán hoặc những bộ phận không cần thiết của dụng cụ ngâm lâu trong dung dịch.
Không mặc định sử dụng C14 để:
Pha trực tiếp vào mọi sản phẩm TBOND.
Thay nước trong mọi quy trình.
Kéo dài potlife của sản phẩm đã pha cứng.
Pha với H10 hoặc HB.
Tẩy bỏ hoàn toàn lớp sơn cũ dày.
Xử lý lớp sơn đang bong hoặc mất liên kết.
Thay thế việc xả nhám tạo chân bám.
Tẩy sạch mọi loại wax hoặc silicone mà không thử trước.
Điều chỉnh GLAZE nếu chưa có công thức và mẫu thử xác nhận.
Khi không có hướng dẫn riêng, ưu tiên sử dụng nước sạch theo TDS của từng sản phẩm.
Dùng nguyên chất trên toàn bộ lớp sơn cũ mà không thử.
Pha sai tỷ lệ nước vệ sinh chuẩn.
Lau bằng một chiếc khăn đã quá bẩn.
Để dung dịch và chất bẩn khô trở lại trên bề mặt.
Cho rằng vệ sinh có thể sửa được lớp sơn mất liên kết.
Đổ C14 tùy ý vào sản phẩm để thay đổi thời gian khô.
Dùng C14 để cố kéo dài potlife của hệ có cứng.
Không ghi nhãn chai dung dịch đã pha.
Để bao bì mở làm thành phần dễ bay hơi bị thất thoát.
Đọc nhãn và phiếu an toàn hóa chất trước khi sử dụng.
Đeo găng và kính bảo hộ khi pha hoặc vệ sinh.
Làm việc tại nơi thông thoáng.
Không uống.
Tránh để sản phẩm tiếp xúc với mắt.
Nếu dính mắt, rửa ngay bằng nhiều nước sạch và thực hiện theo hướng dẫn an toàn trên nhãn.
Đậy kín bao bì sau khi dùng để hạn chế bay hơi.
Không đổ dung dịch vệ sinh dư xuống cống.
Để xa trẻ em và người không liên quan.
Vệ sinh vết dầu, vết sơn cũ nhẹ hoặc GLAZE dư.
Tạo dung dịch:
Vệ sinh nhẹ đa năng.
Ngâm và vệ sinh cọ.
Làm nước pha lót và tinh màu để quét hoặc phun.
FILLER không thay thế keo kết cấu.
GLAZE không thay thế lớp phủ bảo vệ.
C14 không phải dung môi dùng cho mọi sản phẩm.
Mọi hiệu ứng màu phải được làm mẫu đến lớp phủ cuối.
Chỉ bổ sung sản phẩm khi bề mặt thật sự cần.
| Bề mặt / hiệu ứng | Quy trình |
|---|---|
| Cạnh MDF sơn trắng | FILLER → Xả nhám → 66A → 68A |
| Cạnh plywood | FILLER /GLAZE → Xả nhám → 66 → Phủ phù hợp |
| Nội thất giả cổ | 69F màu / GLAZE → 66 → Xả nhám → GLAZE → 68 |